Bộ môn Kinh tế Thị trường tham dự Diễn đàn về chuyển đổi số trong hợp tác xã

Ngày 7/10/2026, tại Khách sạn Daewoo Hà Nội, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phối hợp với Tạp chí Kinh doanh (VnBusiness) và Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường”. Đại diện Bộ môn Kinh tế Thị trường, Viện Nghiên cứu Rau quả tham dự và có một số ý kiến trao đổi cùng đại diện các cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp công nghệ, hệ thống phân phối, tổ chức tài chính và các hợp tác xã.

100926 bo mon 1

Diễn đàn tập trung trao đổi về những khó khăn, điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể, với trọng tâm là nhu cầu thực tế của hợp tác xã. Các nội dung được trao đổi gồm: quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát sản lượng, truy xuất nguồn gốc, quản lý đơn hàng, kết nối khách hàng, giảm chi phí vận hành và mở rộng thị trường.

Một trong những vấn đề được trao đổi tại Diễn đàn là lựa chọn giải pháp chuyển đổi số phù hợp với điều kiện thực tế của từng hợp tác xã. Theo ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, các hợp tác xã cần chủ động rà soát, tự đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, từ đó xác định nhu cầu ưu tiên và lựa chọn giải pháp phù hợp với thực tế hoạt động. Cách tiếp cận này cho thấy chuyển đổi số cần xuất phát từ những nhu cầu cụ thể trong sản xuất, quản trị và tiêu thụ sản phẩm, thay vì đầu tư công nghệ một cách dàn trải.

Theo thông tin được chia sẻ tại Diễn đàn, cả nước hiện có 35.041 hợp tác xã, 164 liên hiệp hợp tác xã và 65.910 tổ hợp tác. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số tại nhiều hợp tác xã còn ở giai đoạn đầu; nguồn nhân lực và năng lực tổ chức thực hiện vẫn là những điểm nghẽn cần được quan tâm.

Một nội dung đáng chú ý tại Diễn đàn là vai trò của dữ liệu sản xuất và truy xuất nguồn gốc trong quá trình hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị hiện đại. Dữ liệu về vùng trồng, sản lượng, mùa vụ, chất lượng và quá trình sản xuất không chỉ phục vụ quản lý nội bộ mà còn góp phần minh bạch thông tin, đáp ứng yêu cầu của thị trường và tăng khả năng kết nối với doanh nghiệp, hệ thống phân phối.

Ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu trước khi kết nối và khai thác, qua đó giúp hợp tác xã nâng cao tính minh bạch và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, ông Chu Tiến Đạt, đại diện Tổng công ty VTC, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu số và nền tảng dùng chung cho các hợp tác xã. Đây được xem là hướng tiếp cận có thể góp phần giảm chi phí đầu tư riêng lẻ, tăng khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu và hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận các dịch vụ công nghệ, thị trường và đối tác kinh doanh.

Đối với lĩnh vực rau, hoa, quả, việc tổ chức và khai thác hiệu quả dữ liệu sản xuất có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng, an toàn, minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc ngày càng cao. Dữ liệu về vùng nguyên liệu, sản lượng, mùa vụ và chất lượng có thể hỗ trợ hợp tác xã tổ chức sản xuất, cung cấp thông tin cho đối tác và từng bước mở rộng các kênh tiêu thụ.

Tại phiên thảo luận, đại diện Bộ môn Kinh tế Thị trường nêu câu hỏi về việc khai thác dữ liệu của hợp tác xã: Khi hợp tác xã đã từng bước hình thành dữ liệu về vùng trồng, sản lượng, mùa vụ, chất lượng và truy xuất nguồn gốc, làm thế nào để khai thác những dữ liệu này không chỉ phục vụ quản lý nội bộ mà còn hỗ trợ kết nối thị trường?

Từ các trao đổi tại Diễn đàn, có thể thấy để dữ liệu thực sự trở thành công cụ hỗ trợ thị trường, thông tin sản xuất cần được chuẩn hóa và gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, hệ thống phân phối và các đối tác. Khi đó, dữ liệu không chỉ giúp minh bạch thông tin sản phẩm mà còn có thể hỗ trợ nhận diện nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất và nâng cao khả năng đáp ứng của hợp tác xã.

Từ góc độ kinh tế thị trường, chuyển đổi số không chỉ được nhìn nhận ở việc hợp tác xã đã sử dụng công nghệ hay chưa, mà quan trọng hơn là dữ liệu và công nghệ có tạo ra giá trị thực tế cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm hay không. Đối với ngành rau, hoa, quả, đây là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và vận dụng chuyển đổi số vào những bài toán cụ thể như quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, quản lý đơn hàng, phát triển kênh phân phối và mở rộng thị trường.

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến hiệu quả thực tế sau đầu tư, không chỉ đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ. Việc xem xét tác động của chuyển đổi số đến chi phí, chất lượng sản phẩm, giá trị hàng hóa, khả năng tiếp cận thị trường và hiệu quả liên kết giữa các chủ thể sẽ góp phần xác định những giải pháp phù hợp với điều kiện của từng hợp tác xã.

Những nội dung trao đổi tại Diễn đàn có sự gắn kết với định hướng nghiên cứu và hoạt động chuyên môn của Viện Nghiên cứu Rau quả, đặc biệt trong các lĩnh vực tổ chức sản xuất, phát triển thị trường, chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị rau, hoa, quả. Việc kết nối dữ liệu sản xuất với thông tin thị trường là một hướng tiếp cận có thể góp phần nâng cao khả năng phân tích cung - cầu, hỗ trợ tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường và tăng cường liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, hệ thống phân phối.

Việc tham dự Diễn đàn là cơ hội để Bộ môn Kinh tế Thị trường cập nhật những vấn đề thực tiễn đang đặt ra đối với quá trình chuyển đổi số của khu vực hợp tác xã, đồng thời tăng cường trao đổi với các cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và các chủ thể thị trường. Những thông tin và kinh nghiệm thực tiễn từ Diễn đàn là nguồn tham khảo hữu ích cho hoạt động nghiên cứu về tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi giá trị và phát triển thị trường rau, hoa, quả trong bối cảnh chuyển đổi số.

100926 bo mon 2

Ảnh 1: Phiên thảo luận của Diễn đàn

100926 bo mon 3

Ảnh 2: Đại diện Bộ môn Kinh tế Thị trường, Viện Nghiên cứu Rau quả tham dự Diễn đàn.

100926 bo mon 4

Ảnh 3: Đại diện Bộ môn Kinh tế Thị trường tham gia thảo luận tại Diễn đàn.

Mai Thị Ngọc Nga, Nguyễn Thị Phương Hiền.

Trang thông tin điện tử của Viện Nghiên cứu Rau quả
Địa chỉ : Tổ dân phố An Lạc, Xã Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
Điện thoại : 84-024.38276254 - Fax : 84-024.38276148
Email : info@favri.org.vn Website : http://favri.org.vn

Top